www.loichua.org    Houston Vietnamese Christian Church

 

 | Home |

 

NHỮNG ĐIỀU KIỆN

THIẾT YẾU

ĐỂ ĐƯỢC PHẤN HƯNG

Có lần một Giaó sĩ nói với tôi để tự bào chữa rằng: “Tôi luôn luôn mong ước một cuộc phục hưng: nhưng tôi ở một khu vực hẻo lánh quá, không thể nào mời một vị Truyền đạo lưu hành đến tiếp tay”. Dường như Thánh Linh Đức Chúa Trời buộc phải hạn chế sự hoạt động của Ngài nơi một số rất ít người ưu tú. Tôi xin tuyên bố mạnh mẽ với tất cả ḷng tin quyết rằng chúng ta có thể được sự phục hưng của Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào ḿnh muốn và bất cứ nơi nào ḿnh muốn. Ông C. G. Finney, nhà Truyền đạo vô địch, tin rằng bất cứ nhóm tín đồ nào cũng có thể được phục hưng, miễn là họ hết ḷng làm theo ư chỉ Đức Chúa Trời, không chừa lại chút nào. Ông D. L. Moody luôn luôn nhấn mạnh rằng lễ Ngũ tuần chỉ là một kiểu mẫu. Chắc hẳn chúng ta không nên dựa vào quyển sách này mà hiểu lầm rằng Đông phương đặc biệt thích hợp với cuộc phục hưng. Chúng tôi đă thấy nhiều hội chúng ở quê hương chịu cảm động y như người Trung Hoa vậy. Thật thế, thường phải lâu hơn, nhưng dầu mất một ngày hoặc mất nửa tháng, nguyên tắc rơ ràng là bất cứ nhóm tín đồ nào t́m kiếm cũng có thể nhận lănh ơn phước đầy đủ của Lễ Ngũ tuần.

Đọc lời Đức Chúa Trời, chúng ta không thể suy tưởng rằng Đức Thánh Linh chịu tŕ hoăn công việc của Ngài, dầu một ngày cũng vậy. Chúng ta có thể biết chắc rằng nơi nào thiếu sự dư dật của Đức Chúa Trời, th́ chỉ tại loài ngườI thiếu đức tin và không vâng lời Ngài. Nếu ngày nay Đức Thánh Linh chẳng tôn vinh Đức Chúa Jêsus Christ ở thế gian như đương thời lễ Ngũ tuần, th́ chỉ tại chúng ta đáng trách. Rốt lại, phục hưng là ǵ, nếu chẳng phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời hoàn toàn cai trị đời sống đă đầu phục Ngài? Như vậy, khi nào người ta đầu phục Chúa, th́ chắc có thể được phục hưng. Riêng tội không đầu phục Chúa rất có thể ngăn cản chúng ta được phục hưng.

Song chúng ta có sẵn sàng tiếp nhận Ngài chăng? Chúng ta có đánh giá đúng Đấng ban ân tứ và chính ân tứ chăng? Chúng ta có sẵn sàng trả giá để được phục hưng bởi Thánh Linh chăng? Ta hăy lấy sự cầu nguyện làm thí dụ. Lịch sử phục hưng tỏ rơ rằng mọi phong trào của Đức Thánh Linh đă phát động từ sự cầu nguyện. Nhưng há chẳng phải ở chính chỗ đó mà nhiều người trong chúng ta suy tàn và xiêu tó, không trả được giá, sao? Kinh Thánh chẳng cho chúng ta biết nhiều về những sự việc đă xảy ra ở căn lầu thành Giêrusalem, giữa lúc Chúa ngự lên Trời vào ngày lễ Ngũ tuần. Nhưng chúng ta có lư lắm mà tin chắc rằng nhóm tín đồ ít ỏi đó than tiếc một một phút không quỳ gối cầu nguyện. Có nhiều điều phải dứt bỏ, nhiều trở lực phải cất đi, nhiều vàng phải luyện lọc, và nhiều cáu cặn phải thiêu cháy. Ngày lễ Ngũ tuần kể rơ những sự ǵ đă xảy ra trên căn lầu kia. Chúng ta cũng biết rằng mỗi lần đổ Thánh Linh theo sau đó đều liên quan đến sự cầu nguyện. Thánh Lu-ca chép rằng: “Khi đă cầu nguyện, th́ nơi nhóm lại rúng động; ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ” .( Công-vụ 4; 31).

Những cuộc dức dấy thiêng liêng đương thời cải chánh phần lớn là kết quả do sự cầu nguyện. Người ta nói rằng Luther xin Đức Chúa Trời ơn ǵ cũng đuợc hết. Mary, Nữ hoàng xứ Tô-cách-lan, sợ lời cầu nguyện của John Knox hơn hết các đạo quân nước Anh. Cũng do sự cầu nguyện mà phát sanh phong trào vinh hiển của Thánh Linh năm 1727, liên hiệp các phần tử Moraves ở Herrnhut, vốn chống đối nhau, thành một lực lượng rao giảng Tin lành hùng mạnh nhất thế giớI trong hai thế kỷ trước. Giám mục Hasse viết rằng: “Suốt cả lịch sử Hội Thánh, há từng có một cuộc nhóm họp cầu nguyện lạ lùng như vậy chăng? Nó bắt đầu tại Herrnhut năm 1727, và kéo dài 100 năm. Thật là tuyệt đối vô song. NgườI ta gọi cuộc nhóm họp này là Sự Cầu Thay hằng giờ. Ấy nghĩa là nhờ các anh chị em thay phiên nhau, họ không hề dứt lời cầu nguyện Đức Chúa Trời cho môi công việc và nhu cầu của Hội Thánh Ngài. Sự cầu nguyện như vậy luôn đưa tới hành động. Trong trường hợp này, nó nhóm lên sự phừng phừng mong ước khiến cho người ngoại đạo được biết ơn cứu rỗi của Đấng Christ. Nó cũng đưa tới chỗ phát sinh những Hội Truyền Giáo ngày nay. Từ Hội thánh ở làng nhỏ bé ấy, hơn 100 giáo sĩ đă ra đi trong ṿng 25 năm. Chúng ta t́m kiếm ở bất cứ nơi nào cũng không thể thấy cái ǵ sánh kịp với t́nh trạng đó”. Có lẽ chúng ta hỏi rằng: “Nhưng có lư do nào khiến cho ngày nay chúng ta không theo kịp phong trào của Hội Thánh Morave chăng?” Chắc hẳn Thánh Linh đời đời đă chẳng ṃn mỏi đâu. Chắc hẳn chúng ta có thể tin quyết rằng ơn phước đang đợi chờ ḿnh, miễn là ta chịu quỳ gối xuống mà cầu xin.

Có lẽ đặc điểm mạnh mẽ hơn hết tron phong trào Wesley chính là các thủ lănh đă nhấn mạnh vào sự cầu nguyện. Họ quen lệ cầu nguyện từ 4 đến 5 giờ sáng, và từ 5 giờ đến 6 giờ chiều. Những nhân vật quan trọng như William Bramwell đă cầu nguyện nhiều hơn nữa, và sau đó đi thăm một địa hạt, chẳng khác ǵ ngọn lửa phừng phừng. Nếu bao nhiêu tín đồ của HộI thánh Giám Lư (Méthodiste) ngày nay chịu đánh giá sự cầu nguyện y như tổ tiên họ th́ há có việc lạ lùng nào không thể xảy ra?

Finney nhờ cậy sự cầu nguyện của các ông Nash và Clary để thực hiện cuộc Phục hưng bởi Đức Thánh Linh hơn là nhờ cậy chính tài biện luận của ḿnh. Ngày nay chúng ta quá quen với t́nh trạng Lao-đi-xê của HộI Thánh, nên lấy làm lạ trước ảnh hưởng dầm thấm mọi sự do lời cầu nguyện đương thờI Finney. Anh em hăy tưởng tượng: Có 40 Mục sư và Giáo sĩ đă xông vào mùa gặt của Chúa, là kết quả do sự cầu nguyện trong một cuộc phục hưng tại trường trung học miền Rochester. Năm 1857, mỗi tuần lễ, ông Finney thấy 50 ngàn người quay về với Đức Chúa Trời. Trong nhiều thành phố, không có nhà thờ rộng đủ chứa ngườ đến nhóm họp cầu nguyện. Vào khoảng đó, tại một căn pḥng bên hông nhà thờ ở đuờng Fulton, họ bắt đầu tổ chức những cuộc nhóm họp cầu nguyện; chỉ trong vài tuần lễ, cả nhà thở ấy đă đông nghẹt, và tín đồ cầu nguyện đă tràn tới các nhà thờ tiếp cận.

Năm 1858, ông Spurgeon hội họp tín hữu đông đúc và nói rằng: “Thánh Linh Đức Chúa Trời đang cứu muôn vàn ngườI ở Mỹ quốc. V́ Đức Chúa Trời chẳng tây vị ai hết, nên chúng ta hăy cầu nguyện cho đến khi Ngài mưa phước dồi dào trên đất nước chúng ta”. Cuộc phục hưng lớn lao năm 1859 chính là do Đức Chúa Trời đáp lại đó. Người ta nói rằng ông Moody không hề nhận lời giảng phục hưng nếu họ chưa quả quyết với ông rằng con đường đă được chuẩn bị bởi lời cầu nguyện. Ở miền Nam xứ Galles, ít lâu trước khi có cuộc phục hưng tại đó trong những năm đầu thế kỉ 20 này, người ta đă tổ chức thêm 300 nhóm cầu nguyện. Quả thật, xứ Galles hầu đă trở thành một pḥng nhóm họp cầu nguyện vĩ đại. Kết quả thể nào? Trong ṿng 2 tháng, 70 ngàn người đă quay về với Chúa.

Năm 1902, tại Calcutta,  hai bà Giáo sĩ của Hội Truyền Giáo tại Khassia Hills nghe Tấn sĩ Torrey giảng một bài về sự cầu nguyện. Họ chịu cảm động sâu xa đến nỗi khi trở về địa hạt ḿnh, họ chỉ giảng về sư cầu nguyện mà thôi. Kết quả là khoảng muà xuân năm 1905, dân miền Khassia cầu nguyện ở khắp mọi nơi. Tự nhiên, cuộc Phục hưng không sao tránh khỏi. Trong ṿng mấy tháng, hơn 8 ngàn người gia nhập Hội Thánh tại địa hạt đó của Ấn độ.

Trong một chương ở khoảng đầu sách này, chúng tôi đă nêu lên rằng sự cầu nguyện khẩn thiết bởi đức tin có liên quan rất chặt chẽ với cuộc Phục hưng năm 1907, đă dắt 50 ngàn ngườI Cao Ly đến cùng Đấng Christ. Chúng tôi cũng tin quyết rằng mọi phong trào do Đức Thánh Linh trên đất Trung Hoa mà chúng tôi được chứng kiến đều có thể nói là do sự cầu nguyện. Sau một cuộc giảng phục hưng cảm động đặc biệt, một vị Giáo sĩ nói với tôi rằng: “ Chúng ta cầu nguyện ít như vậy mà Chúa c̣n làm việc nhiều như vậy, nếu chúng ta cầu nguyện cho đầy đủ, th́ há có việc ǵ mà Ngài không làm sao?” Ngày kia, có ngườI hỏi một nhà Truyền đạo lưu hành trứ danh rằng: “Bí quyết của sự phục hưng là ǵ?” Ông đáp: “Không có bí quyết ǵ hết. Sự phục hưng bao giờ cũng có v́ Đức Chúa Trời đáp lại lời cầu nguyện.”

Tôi cũng xin quả quyết rằng nếu trước hết không có phong trào quay về với Thánh Kinh, th́ chúng ta không có hi vọng được Đức Thánh Linh ban cho một cuộc phục hưng mạnh mẽ lan tràn khắp thế giới. Ngày nay tác giả Kinh Thánh bị nhục mạ nhiều lắm v́ ngườI ta nghi ngờ Lời của Ngài. Quả thật, Ngài buồn phiền thấm thía v́ Quyển Sách duy nhất làm chứng về Đức Chúa Jêsus lại bị loài người coi rẻ quá. Nếu đối vớI chúng ta, Kinh Thánh không thật là Lời Đức Chúa Trời, th́ lời cầu nguyện chúng ta là hoàn toàn giả dối. Không hề có sự phục hưng ở đâu hết, trừ ra ở nơi nào có những người nam, người nữ Đấng Christ hoàn toàn tin và hết ḷng đ̣i cho ḱ được các lời hứa của Đức Chúa Trời.

Gươm của Thánh Linh, tức là Lời Đức Chúa Trời, là khí giới duy nhất từng được dùng mănh liệt trong sự phục hưng. Nơi nào Lời Đức Chúa Trời được phân phát đúng cách, th́ Lời ấy bao giờ cũng giống như thanh gươm hai lưỡi sắc bén, như lửa, như búa đập tan vầng đá. Khi Luther dịch Kinh Thánh ra tiếng Đức, th́ Giáo hội La mă mất nước Đức. Moody không thông thái tri thức ở các học đuờng, nhưng ông thật biết Kinh Thánh của ḿnh, nên chắc trước kia và sau này, thế giới không hề biết ai sánh ngang với vị Sứ đồ đánh lưới linh hồn đó.

Đang khi đi học tại thành phố Toronto, khí giới duy nhất của tôi tại các khám tù và các khu phố nghèo là quyển Kinh Thánh. Ở Trung Hoa, mỗi tuần lễ tôi giảng từ 35 đến 40 bài, và hầu hết các bài ấy chỉ là thuật lại Kinh Thánh. Quả thật, tôi tưởng có thể vững ḷng nói rằng trong 41 năm hầu việc Chúa ở Ngoại quốc, tôi chưa hề giảng cho một hội chúng Trung Hoa nào mà tay không cầm Kinh Thánh mở ra để dựa vào đó mà nói được rằng: “ Chúa phán như vầy ”. Tôi luôn luôn tin quyết rằng cứ giảng dị giảng lời Kinh Thánh th́ sẽ dẫn được người ta đến cùng Đấng Christ. Tôi chưa hề nếm thất bại v́ làm như vậy. Vị Mục sư Trung Hoa của tôi, một người dâng ḿnh cho Chúa trọn vẹn hết mà tôi từng thấy, đă được cứu khỏi một đời nhơ nhuốc, xấu xa v́ lần đầu tiên nghe tôi giảng Tin Lành.

Nay 70 tuổi rồI, tôi ngẩn ngơ tiếc rằng ḿnh đă chẳng để thêm th́ giờ nghiên cứu Kinh Thánh. Ấy là trong ṿng gần 19 năm, tôi đă đọc suốt Tân Ước bằng tiếng Trung Hoa 55 lần. Tấn sĩ Campbell Morgan, vị quán quân trong quyển giới dạy Kinh Thánh, tuyên bố rằng ông không dám dạy quyển nào trong Kinh Thánh nếu chưa đọc quyển ấy ít nhất là 50 lần. Tôi được biết cách đây mấy năm, có một ông dự Hội đồng Phục hưng tại Keswich (nước Anh), sanh ḷng nhiệt t́nh đối với Kinh Thánh như lửa cháy, đến nỗi trong 3 năm, đă đọc hết Kinh Thánh 12 lần. Người ta tự nhiên tưởng tưởng rằng ông thuộc về hạng nhàn rỗI. Nhưng trái lại, mỗi ngày ông bắt đầu làm việc từ 6 giờ rưỡi sáng tại xưởng đúc thép Motherwell.

Khi các cuộc Phục hưng lớn năm 1857-59 lôi cuốn nước Mỹ và các nước Anh th́ Kinh Thánh chẳng phải là Quyển Sách bị xao lăng quá. Đương thời Moody, Kinh Thánh cũng không bị xao lăng quá. Dưới thời Măn Thanh, các học giả phải thuộc làu làu các sách vở của đại hiền. Đối với “Sách Trọng đại của thế giới”, các học giả của mấy nước có danh là tín đồ Đấng Christ, có đạt tới mức đó chăng? Đáng buồn thay, biết bao ngườI tự nhận là đại diện Đức Chúa Jesus Christ ở thế gian nhưng lại biết quá ít ỏi về Lời của Ngài! 30 năm trước, lư tưởng của Giáo sĩ là phải làu thông Kinh Thánh đến nỗi không cần đem theo quyển Thánh Kinh Sách Dẫn (Concordance). Ngày nay, rất nhiều Giáo sĩ lănh đạm với Kinh Thánh, phải chăng bởi họ có lẽ đă t́m được phương pháp nào tốt hơn để đối phó vớI nhu cầu của thế giới đang đau đớn v́ tội lỗi?

Rốt lại, sự kêu gọi phục hưng đáng phải là sự kêu gọi tôn Đấng Christ làm Vua của các vua, Chúa của các chúa trong ḷng chúng ta. Ngài ví như ngọn núi Everest vượt lên trên đồng bằng. Nếu chúng ta muốn Ngài ở với ḿnh th́ phải dành hết chỗ cho một ḿnh Ngài. Phải chà nát hết thảy h́nh tượng, phải đặt hết thảy các Y-sác yêu dấu lên bàn thờ; phải từ chối mọi sự xui giục của bổn ngă. Khi ấy, và chỉ khi ấy, chúng ta mới mong thấy đồng ruộng rộng lớn hơn mở trước mắt ḿnh. Người ta kể lại rằng Mahmond, danh tướng Hồi giáo, đang khi đi chinh phục qua miền Bắc Ấn, có thói quen hủy diệt hết thảy h́nh tượng sa vào tay ḿnh. Rốt lại, ông tới thành phố Guggeratt, tại đây có một h́nh tượng được dân chúng quư trọng khác thường. Đám thân hào trong thành phố đến cùng tướng Mahmond và nài xin ông hăy tha h́nh tượng này cho họ. Họ nói rằng ông có thể làm chi các h́nh tượng khác tùy ư, nhưng nếu ông cất đi vị thần này khỏi họ th́ họ chết mất. Họ nài xin tha thiết đến nỗi người chiến thắng mủi ḷng trong chốc lát. Nếu cất khỏi đám dân kia cái lẽ sống, chết của họ, th́ có vẻ tàn nhẫn quá. Nhưng ông nhớ lại lời thề nguyện không tha thứ một h́nh tượng nào. Ư muốn của Allah đă rơ ràng. Ông bảo đem cho ḿnh một cái búa lớn và chính tay ông đập vào tượng một phát khủng khiếp. Ông ngạc nhiên v́ khi tượng vỡ, th́ có bao nhiêu châu báu rơi ra! Nhân dân đă giấu của báu trong h́nh tượng ấy và hi vọng cảm động ḷng người chiến thắng chừa nó lại. Anh em hăy suy xét, ông phải thiệt tḥi bao nhiêu nếu đă chùn tay, không hủy diệt h́nh tượng cuối cùng đó.

Tại Hội Nghị Truyền giáo họp tại thành phố Edimbourg, năm 1919, các thủ lănh đạo Đấng Christ đă có cơ hội vô song để dứt bỏ h́nh tượng của giới phẩm chức Hội Thánh và đem ḷng ḿnh tiếp xúc với những sự giàu có không ḍ được của Đấng Christ. Đương thời nay, không có cuộc nhóm họp nào của Hội thánh hoài băo cao siêu như thế. Các Giáo sĩ thủ lănh từ bốn phương thế giới đến dự. Nhiều người hi vọng vững chắc rằng một kỉ nguyên mới đă mở đầu cho các Hội Truyền giáo. Đề mục của ngày chót là: “Căn cứ ở bổn quốc”. Nó nêu lên những sự hiện thấy về khả năng vô biên. Các chi hội ở bổn quốc nhận lănh được quyền phép trong một cuộc Phục hưng mạnh mẽ bởi Đức Thánh Linh, sẽ cử đi những người thích đáng như Phao lô và Banaba. Với phương tiện nhân số và tài chính lớn lao của các chi hội ấy, cả thế giới sẽ được nghe Tin Lành trong một thế hệ.

Than ôi! Đó chỉ là mộng tưởng. Tôi không bao giờ trải biết sự đau đớn và thất vọng thấm thía như giữa ngày đó. Trong số nhiều người giảng cho Hội nghị Truyền giáo lớn lao ấy, chỉ có ba ông nhấn mạnh rằng Đức Thánh Linh chính là Yếu tố của sự rao giảng Tin Lành khắp thế giới. Nghe các bài giảng bữa đó, ta chỉ có thể kết luận rằng sự rao giảng Tin Lành cho loài người hư mất chỉ là một vấn đề tổ chức tốt đẹp hơn, trang bị đầy đủ hơn, và có thêm nam, nữ Giáo sĩ. Quả thật, không thiếu triệu chứng tỏ ra rằng chỉ thêm vài tàn lửa nữa là đủ bùng cháy mau lẹ. Nhưng không, sự hạ bệ thần tượng tự măn của giới phẩm chức Hội Thánh dường như là một giá quá cao, không sao trả nổi.

Tuy nhiên, hỡi anh em, Thánh Linh Đức Chúa TrờI vẫn c̣n ở với chúng ta. Chúng ta vẫn c̣n nắm lấy lễ Ngũ tuần được. Nếu ta không được phuc hưng, ấy là v́ một thần tượng nào đó c̣n ngự trên ngôi, v́ ta c̣n cố quyết đặt ḷng tin cậy nơi kế hoạch của loài người, và v́ ta chưa chịu đối mặt vớI chân lư muôn đời không bao giờ biến đổi, tức là: “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng là bởi năng lực, bèn là BỞI THẦN TA”. (Xa-cha-ri 4:6).

Trích từ “Bởi Thần Ta” của Jonathan Goforth

 | Home |